Đền Bà Kiệu
📍 59 phố Đinh Tiên Hoàng, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
🏛️ Loại hình: Đền
🎉 Lễ hội: ngày 6 tháng 3 âm lịch
🕐 Giờ mở cửa: Sáng: 8h00-11h30, Chiều: 13h30-16h30
🎫 Giá vé: Miễn phí
Thuyết minh audio
Chi tiết di tích
Đền Bà Kiệu toạ lạc ở số 59 đường Đinh Tiên Hoàng, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, đối diện với cầu Thê Húc, ở vị trí trung tâm của Thủ đô Hà Nội.
Đền Bà Kiệu được xây dựng vào thời Hậu Lê. Khi mới xây dựng, khu vực này chỉ có đền chính. Sau đó mới có thêm cổng Tam Quan vào cuối niên hiệu Cảnh Hưng (1740-1786) và quả chuông đồng năm năm Cảnh Thịnh thứ 8, thời Tây Sơn (1800). Trải qua nhiều lần trùng tu, kiến trúc hiện tại của ngôi đền chủ yếu là dấu tích từ lần cải tạo lớn vào năm 1864 (tức năm Tự Đức 17).
Đền Bà Kiệu (còn có tên là “Huyền Chân Từ”). Theo bia “Trùng tu Huyền Chân Từ bi ký” dựng vào năm Tự Đức 19 (1866) thì đền Huyền Chân nguyên thuộc đất huyện Thọ Xương và được xây dựng từ thời Lê. Tư liệu của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 cho biết, đền này được một người phụ nữ tên là Bà Kiệu xây dựng vào thời nhà Hậu Lê, do đó, đền có tên là Bà Kiệu. Nghiên cứu của Nguyễn Thế Long cho biết thêm: đền được trùng tu tôn tạo vào cuối thời Cảnh Hưng (1740-1786) bởi tài lực riêng một vị quan làm việc trong Phủ Chúa Trịnh. Đây là ngôi đền ở trước Phủ Chúa, mà không thuộc quyền sở hữu của Chúa Trịnh. Nó là đền tư của vị quan Lễ phiên làm việc trong Phủ Chúa. Dưới triều Nguyễn, đền Bà Kiệu được trùng tu chủ yếu vào năm Tự Đức 6 (1853) và hơn một thập kỉ sau đó là năm 1864.
Đền Bà Kiệu và đền Ngọc Sơn kết hợp trở thành một khu vực có nơi thờ Cha Đức Thánh Trần và thờ Mẹ chúa Liễu Hạnh với câu ca “Vào cửa cha, ra cửa mẹ”. Tài liệu của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 cho biết: vào cuối thế kỷ XIX, khi người Pháp tiến hành quy hoạch lại phố và làm đường ở Hà Nội, năm 1890, chính quyền Pháp đã trưng dụng đất quanh đền làm vườn hoa, năm 1891, chính quyền Pháp quyết định làm con đường quanh hồ Hoàn Kiếm (đoạn phố Đinh Tiên Hoàng ngày nay) chia tách đền thành hai phần một bên là Tam quan, một bên là chính điện. Từ năm 1900-1905, với lý do chỗ giao phố Đinh Tiên Hoàng và Lò Sũ thường xuyên xảy ra tai nạn, chính quyền Pháp đề nghị phá bỏ đền Bà Kiệu để tạo sự thông thoáng cho lưu thông và để mở rộng đường cho tàu điện chạy qua, đất đai của đền một lần nữa bị trưng dụng. Hồ sơ tài liệu của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 cho biết: năm 1937, trước nguy cơ đền Bà Kiệu phải chuyển đi nơi khác để lấy đất làm đường nối đại lộ Francis Garnier với quảng trường Cocotier (sau đổi thành quảng trường Négrier, nay là quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục), Giám đốc Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp đã gửi công văn lên Thống sứ Bắc Kỳ đề nghị xếp hạng di tích lịch sử đền Bà Kiệu. Nhờ các can thiệp kịp thời, đền Bà Kiệu vẫn được giữ lại và đến năm 1951, đền Bà Kiệu đã có tên trong danh sách 31 đình, đền, chùa và di tích lịch sử được xếp hạng của thành phố Hà Nội do Sở Quốc gia Bảo tồn Cổ tích lập ngày 07/8/1951.
Nơi thờ tự chính của đền Bà Kiệu gồm 3 gian: Đại bái, Phương đình và Hậu cung. Gian Đại bái và phương đình thờ Công đồng. Hậu cung được chia thnafh 3 gian nhỏ: gian bên phải nhìn từ ngoài vào thờ Quan Tam Phủ (ban chính giữa), Sơn Trang (bên phải nhìn từ ngoài vào), ban thờ Chúa Bà (bên trái nhìn từ ngoài vào). Gian giữa của Hậu cung thờ cộng đồng các quan. Phía trên và ở sau là khám thờ có tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Quỳnh Hoa, Quế Hoa, phía dưới có 2 khám thờ nhỏ có tượng Cô Bé, Cậu Bé; phía trước ở trên sập thờ là tượng các quan. Gian bên trái của Hậu cung nhìn từ bên ngoài vào là Ban thờ Ngọc Hoàng và quan Nam Tào, Bắc Đẩu (ở giữa), ban Chầu Thủ đền ở bên phải nhìn từ ngoài vào, ban bên trái nhìn từ ngoài vào là ban thờ các cụ Thủ nhang đồng đền. Tượng các ngài được tạc kích thước nhỏ, có từ thế kỷ 19, dưới thời nhà Nguyễn.
Vào những năm 1960, đồ thờ của đền được mang về Bảo tàng lịch sử, sau được trả lại. Sau thống nhất đất nước 1975, Sở Văn hoá mượn không gian của đền để trưng bày Bảo tàng chiến thắng B52, không gian tập múa rối, v.v. Hàng năm, đền có khoảng 10 đợt lễ, tuy nhiên 21/2 là lễ lớn nhất, trước đây được tổ chức hằng năm, rước nước từ sông Hồng. Hiện nay, nghi lễ được tổ chức 2 năm/lần, lấy nước từ trước cửa đền Ngọc Sơn, rước về đền bà Kiệu.
Theo thời gian, có 7 hộ dân cư và một công ty đã sử dụng không gian trong và bên cạnh đền Bà Kiệu để ở và làm việc. Một số hộ gia đình sống ở đây cho rằng, đền được cụ tổ của họ xây dựng, đến nay đã 11 đời trông coi di tích. Tuy nhiên, hiện nay, tại khu vực đền có sự tranh chấp về sở hữu giữa Ban quản lý di tích và tư nhân (gia đình đã xây dựng và trông coi ngôi đền). Tại gian tiền đường, người của ban quản lý trực tại di tích trực, trông coi sổ ghi công đức; tại khu vực Hậu cung, trước đây có gia đình của người là hậu duệ các đời thủ nhang đang sinh sống và trông coi việc hương đèn ở hậu cung. Những người trông nom tại đền Bà Kiệu thường là các bà và cũng đều là những người có căn quả, đồng bóng. Theo lời kể của gia đình trông coi ở Hậu cung, trước đây, ở đền Bà Kiệu có tổ chức hầu đồng nhưng gần đây thì hoạt động này không diễn ra.
Cuối năm 2024, thực hiện chủ trương trả lại không gian cảnh quan khu vực hồ Hoàn Kiếm, Uỷ ban nhân dân Quận Hoàn Kiếm đã tổ chức di dời trụ sở của Công ty cổ phần Mỹ thuật và Vật phẩm văn hoá Hà Nội và 7 hộ dân đang sống trong khuôn viên đền Bà Kiệu nhằm giải phóng mặt bằng cho di tích này. Trong số 7 hộ dân, có 3 hộ là hậu duệ đời thứ 11 của thủ nhang đền Bà Kiệu. Do việc thoả thuận với các hộ dân gặp nhiều khó khăn, cuối cùng UBND quận đã thực hiện kiểm đếm bắt buộc đối với 7 hộ dân đang sử dụng diện tích ở tại số 59 Đinh Tiên Hoàng, phường Lý Thái Tổ để thực hiện dự án giải phóng mặt bằng và cải tạo khu vực xung quanh di tích đền Bà Kiệu. Cho đến nay, việc giải phóng mặt bằng đã hoàn tất.
Hiện nay, Đền Bà Kiệu thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và 2 thị nữ của ngài là Quỳnh Hoa và Quế Hoa. Đền Bà Kiệu được xếp hạng Di tích lịch sử Văn hóa Quốc gia vào năm 1994.
🗺️ Sơ đồ di tích
📸 Ảnh tư liệu xưa
📸 Hình ảnh hiện tại