Đền Bạch Mã - Trấn Đông
📍 76 Hàng Buồm
🏛️ Loại hình: Đền; xếp hạng Di tích Đặc biệt Quốc gia năm 2022
🎉 Lễ hội: Lễ hội truyền thống vào tháng Hai âm lịch
🕐 Giờ mở cửa: Sáng: 8h00-12h00, Chiều: 13h30-17h30, Tối (thứ Sáu, thứ Bảy và Chủ Nhật): 19h00-21h00
🎫 Giá vé: 20.000 VND, Miễn phí cho trẻ em dưới 16 tuổi và người khuyết tật nặng
Thuyết minh audio
Chi tiết di tích
Đền Bạch Mã tọa lạc tại số 76 phố Hàng Buồm, thuộc trung tâm khu phố cổ Hà Nội. Đền Bạch Mã thờ thần “Long Đỗ Thần Quảng Lợi Bạch Mã Đại Vương”. Long Đỗ là vị thần Thành hoàng của kinh thành Thăng Long. Sách cổ Việt điện u linh chép: khi đô hộ, Cao Biền đắp La Thành (thế kỷ IX) đã có cuộc đấu phép với thần, bị thua phải lập đền thờ. Lại tương truyền rằng năm 1010, đầu kỷ nguyên độc lập tự chủ, Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, định đắp thành nhưng nhiều lần đắp lên lại bị sụp đổ. Vua cho người cầu khấn ở đền Long Đỗ thì thấy một con ngựa trắng từ đền đi ra. Vua lần theo vết chân ngựa, vẽ đồ án xây thành, thành mới đứng vững. Thần được vua Lý Thái Tổ phong làm Thành hoàng kinh thành Thăng Long.
Đền Bạch Mã là một công trình kiến trúc lớn trong khu vực phố cổ Hà Nội. Đây là một di tích hoàn chỉnh và biệt lập, xây dựng theo hướng Đông Nam sát hè phố Hàng Buồm, trên khu đất có chiều sâu 37,33m, rộng 15,96m. Đền có quy mô lớn, mặt bằng tổng thể bao gồm các công trình kiến trúc trên một trục chính gồm: Nghi môn, Phương đình, Tiền tế, Trung tế và Hậu cung. Các hạng mục kiến trúc này, mặc dù đã qua nhiều lần trùng tu, đặc biệt là các đợt tôn tạo trong dịp kỷ niệm 990 và 995 năm Thăng Long - Hà Nội, nhưng vẫn mang phong cách nghệ thuật tiêu biểu của thế kỷ XIX với nhiều mảng chạm trang trí, lối kết cấu kiến trúc truyền thống.
Hệ thống bia đá hiện còn tại di tích cho biết đền được mở rộng vào niên hiệu Chính Hòa thời Lê (1680-1705). Cuối thế kỷ 19, được tôn thêm nền cũ và mở rộng thêm. Năm 1781, chúa Trịnh chuẩn y cho 3 giáp Mật Thái, Bắc Thượng, Bắc Hạ, phường Hà Khấu xung quanh đền Bạch Mã được làm dân “tạo lệ” (sắm lễ vật tế lễ, không phải sưu sai, tạp dịch khác). Năm 1829, lại sửa chữa thêm tráng lệ. Năm 1839 dựng thêm văn chỉ ở bên trái đền, dựng phương đình (đình hình vuông) để làm nơi cúng lễ các tuần tiết. Khuôn viên đền đã bị thu hẹp. Nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long-Hà Nội (2000), di tích được tu bổ lớn trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng kiến trúc cũ.
Đền quay mặt về hướng Nam, hiện nay gồm Tam quan, Phương đình, Đại bái, Thiêu hương, Cung cấm và Nhà hội đồng ở phía sau. Phương đình mới được xây dựng năm 1839 dưới thời Nguyễn nên mang đậm phong cách kiến trúc thời nay. Những con nghê trên xà ngang và những lồng đèn hình hoa sen trên đầu 4 xà nách gần gũi với kiến trúc phương đình ở Hội An. Từ Phương đình vào Đại bái có mái vòm hình “vỏ cua”. “Vỏ cua” nối liền các nhà, tạo ra một không gian rộng rãi.
Đại bái có bộ khung gỗ bốn hàng chân, có bộ vì kèo được kết cấu theo lối “chồng rường, giá chiêng”, mái phân theo kiểu “thượng tam, hạ tứ”. Trên các cốn gỗ, xà nách, các vì chồng rường, có nhiều mảng chạm khắc. Đề tài trang trí là mây lửa, hoa lá. Nối Đại bái với nhà Thiêu hương là mái vòm “vỏ cua” hình bán nguyệt, trang trí hoa lá.
Trong Cung cấm có một sàn gỗ cao, ván bưng ba mặt để làm nơi toạ lạc của thần Bạch Mã. Tượng thần Bạch Mã (Long Đỗ) ngồi trong khám, luôn được bưng kín. Cả tượng và khám là sản phẩm dưới thời Nguyễn.
Đền còn lưu giữ được 15 bia. Nội dung các bia đề cập đến sự tích của đền và thần, nghi lễ cúng thần, các lần trùng tu tôn tạo. Đền có các đồ thờ như đồ lỗ bộ gồm các vũ khí thời cổ như kích, đao, thương, câu liêm... được sơn son thếp vàng, chạm khắc tinh xảo.
Trong đền, ngoài các lư hương đồng, bình đồng, tượng người, lại có cả tượng Phật. Chi tiết này thể hiện quan niệm của dân gian là “tam giáo đồng tôn”. Đền còn có một đôi hạc chân cao, cổ cao và đôi phỗng trong tư thế đứng trang nghiêm.
Lễ hội đền làng hằng năm vào tháng Hai âm lịch, trước đây có tố chức lễ đánh trâu rước xuân. Tục lệ “Vọt thổ ngưu”, tức là chiếc roi đánh vào con trâu đất; đây chính là tục “đả xuân ngưu” thời cổ của các cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Theo Việt sử lược, năm 1048, vua Lý Thái Tông hạ chiếu đinh phép “đả xuân ngưu”. Về tục này, sách An Nam chí lược còn ghi: “Tiết lập xuân, vua sai vị trưởng họ dùng roi đánh vào con trâu bằng đất. Sau đó, các quan đều cài hoa lên mũ, rồi vào cung dự yến tiệc”. Tục này ở thời Lê vẫn còn thịnh hành. Trong các di tích thuộc “Tứ trấn”, đền Bạch Mã trấn phía Đông, được xây dựng sớm hơn cả. Tồn tại trong lòng phố cổ với nhiều màu sắc, yếu tố nghệ thuật kiến trúc cùng một hệ truyền thuyết đầy tính lịch sử và triết học về vị thần được thờ, đền Bạch Mã mãi mãi giữ nguyên giá trị về một mốc giới thiêng của kinh thành Thăng Long ngàn năm văn hiến.
🗺️ Sơ đồ di tích
📸 Ảnh tư liệu xưa
📸 Hình ảnh hiện tại