Chùa Liên Phái
📍 Ngõ Liên Phái, 182 Bạch Mai
🏛️ Loại hình: Chùa, di tích Lịch sử-Kiến trúc-Nghệ thuật quốc gia, xếp hạng năm 1962
🎉 Lễ hội: Lễ Giỗ tổ vào ngày 14 tháng Hai âm lịch
🕐 Giờ mở cửa: 8h00-17h30
🎫 Giá vé: Miễn phí
Thuyết minh audio
Chi tiết di tích
Chùa Liên Phái là một ngôi chùa cổ, được Lân Giác thượng sĩ (tức Trịnh Lập, em trai chúa Trịnh Cường – phò mã của vua Lê Hy Tông) lập vào năm 1726, với tên gọi ban đầu là chùa Liên Hoa. Tương truyền rằng trong lúc đào đất xây bể cạn, ông phát hiện một ngó sen, từ đó phát tâm xuất gia, cho dựng chùa là nơi tham thiền, đọc kinh, đặt tên là Liên Hoa (nghĩa là “hoa sen”). Sau khi theo học đạo với Hòa thượng Tuệ Đăng ở Yên Tử, ông viên tịch năm 1733, thọ 37 tuổi. Sau lễ trà tỳ (hỏa táng), đệ tử dựng tháp xá lợi và tôn ông làm Tổ sư khai sáng dòng Liên Tông (dòng Hoa Sen). Từ đó, chùa đổi tên thành Liên Tông, và đến thời Nguyễn, để tránh húy vua Thiệu Trị, đổi thành Liên Phái. Ngày nay, chùa tọa lạc trong ngõ Liên Phái, phố Bạch Mai, thành phố Hà Nội.
Trải qua nhiều thế kỷ phát triển và trùng tu, chùa hiện là một quần thể kiến trúc quy mô lớn với nhiều hạng mục: Tam quan, tháp Liên Hoa 11 tầng, nhà bia bốn mái, chùa chính, điện thờ Mẫu, nhà Tổ, vườn tháp, nhà Vong, cùng hệ thống phụ trợ như điện thờ Mẫu, nhà Tăng, thư viện, lầu Quan Âm, nhà khách, giảng đường Phật pháp, am thờ, nhà bếp…
Nổi bật trong khuôn viên chùa là Bảo tháp Cửu phẩm Diệu Quang, cao khoảng 10 mét, gồm 10 tầng thu nhỏ dần lên đỉnh, xây dựng từ năm 1855 đến 1859. Bên cạnh là lầu Quan Âm, kết cấu hai tầng kiểu chồng diêm, hài hòa với tổng thể kiến trúc.
Trung tâm chùa là điện Tam Bảo, gồm nhà Bái Đường và Thượng Điện, nối với nhau bằng nhà Cầu, tạo mặt bằng “Tiền Nhị-Hậu Đinh”.
Bái Đường có 5 gian, mái đầu hồi bít đốc, kết cấu vì kèo kiểu chồng rường-giá chiêng, trang trí lá hoa đơn giản.
Nhà Cầu dựng khung gỗ, vì nóc vỏ cua, chạm hình lưỡng long chầu nhật.
Thượng Điện có kết cấu vì nóc chồng rường-giá chiêng, trang trí Tứ quý, là nơi tôn trí tượng Phật -không gian thiêng liêng nhất.
Phía sau là nhà Tổ gồm 11 gian, với 8 cửa lớn dạng cửa bức bàn, hai hồi xây bít đốc, mái lợp ngói mũi hài, trang trí gạch hoa chanh. Kế tiếp là vườn tháp, nơi an nghỉ của các vị trụ trì xưa, gồm 7 ngôi tháp chia làm hai hàng: hàng đầu có 2 tháp gạch cổ, hàng sau có 5 tháp, trong đó tháp Cứu Sinh – nơi an nghỉ của Lân Giác thượng sĩ – bằng đá, dựng năm 1733, là cổ nhất.
Điện thờ Mẫu có mặt bằng chữ Đinh, gồm Tiền tế 5 gian và Hậu cung 1 gian, kết cấu vì mái chồng rường-giá chiêng. Hai bên là hai dãy nhà Tăng, mỗi dãy 7 gian, mặt bằng chữ Nhất, mái bít đốc.
Không chỉ là một công trình kiến trúc Phật giáo cổ kính, chùa Liên Phái còn nổi bật bởi di sản tư liệu đặc sắc. Theo thống kê, hiện nay, chùa còn lưu giữ 67 văn bia cổ, chia thành 3 nhóm chính: bia Tháp mộ, bia Hậu Phật, bia Lịch sử – phản ánh hành trạng các vị cao tăng, công đức thí chủ và lịch sử trùng tu chùa. Các bia đều có giá trị lịch sử-nghệ thuật cao, thể hiện trình độ chạm khắc đá và thư pháp Hán Nôm tinh xảo. 42 bức hoành phi, 64 câu đối, 13 biển gỗ (bức chương) được bài trí tại các không gian thờ tự, có nội dung ca ngợi công hạnh Phật, tổ sư và tư tưởng nhân sinh sâu sắc.
Đặc biệt, chùa hiện bảo tồn hơn 1.500 mộc bản thuộc nhiều bộ kinh sách Phật giáo do tổ sư các thời kỳ để lại. Các mộc bản được khắc in thủ công trên gỗ, nội dung bao gồm kinh Phật, luật giới và văn bản giảng dạy giáo lý. Đây là kho tư liệu quý hiếm trong hệ thống di sản tư liệu Phật giáo Việt Nam, có giá trị lớn trong nghiên cứu văn học cổ, thư pháp, kỹ thuật in ấn và tư tưởng Phật giáo.
Với hệ thống di sản tư liệu phong phú, chùa Liên Phái không chỉ là nơi thực hành tín ngưỡng mà còn là trung tâm lưu giữ tri thức truyền thống, khẳng định vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và học thuật của Thăng Long xưa. Chùa được công nhận là di tích lịch sử-kiến trúc-nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 313VH/VP ngày 28/4/1962.
Hoạt động tín ngưỡng tại chùa diễn ra quanh năm, phục vụ đời sống tâm linh người dân và khách thập phương. Người dân thường đến chùa làm lễ trấn trùng, xem ngày giờ tốt, cầu siêu, cầu an, cầu duyên, xin bùa chú. Nhiều gia đình còn duy trì tục đặt lễ tại chùa khi tổ chức cưới hỏi, mời thầy cúng thực hiện nghi lễ theo phong tục.
Hằng năm, chùa tổ chức nhiều lễ hội lớn như Phật Đản, Rằm tháng Bảy, Tết Nguyên đán, đặc biệt là Lễ Giỗ Tổ vào ngày 14 tháng Hai âm lịch – lễ trọng nhất trong năm.
🗺️ Sơ đồ di tích
📸 Ảnh tư liệu xưa
📸 Hình ảnh hiện tại
📜 Tư liệu Hán Nôm
- 📄 Bia số 1-Trùng hưng Liên Phái tự-Ly Trần viện biệt chí-dịch nghĩa.docx
- 📄 Bia số 2-Trùng hưng Liên Phái tự-Ly Trần viện ký - dịch nghĩa.docx